Phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi- Văn 12

Loading...

Em hãy phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi.

Nguyễn Đình Thi sáng tác thi phẩm “Đất nước” từ năm 1948 vào năm 1955 thì tác phẩm được hoàn thành, sau chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội. Bài thơ đặc sắc này gồm hai phần. Phần đầu được viết và hình thành trên cơ sở những đoạn trích từ hai bài Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và Đêm mít tinh (1949). Phần tiếp theo đó là được viết năm 1955. “Đất nước” như được nhìn qua một không gian – thời gian thật độc đáo: mùa thu với mốc son lịch sử là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02 tháng 09 năm 1945. Tuy bài thơ được viết trong những thời gian khác nhau nhưng nguồn cảm hứng thơ vẫn liền mạch và bài thơ là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.
Nguyễn Đình Thi đã thể hiện và đúc kết những cảm xúc và suy ngẫm của mình về đất nước trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp. Cảm hứng trong thơ của tác giả- Nguyễn Đình Thi dường như luôn luôn kéo dài theo suốt hành trình kháng chiến, được nối kết với lịch sử oai hùng bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước và liên tưởng mở rộng tới tương tai tươi sáng của cách mạng. Có thể nói rằng đó chính là cảm hứng về một đất nước vất vả mà quá đỗi đau thương, tươi thắm vô ngần được triển khai theo hướng từ cụ thể đến khái quát.
Trong thi phẩm “Đất nước” này, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình về đất nước bằng hình ảnh mùa thu xưa, hình ảnh mùa thu nay và hình ảnh đất nước đau thương, một đất nước bất khuất, anh hùng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thông qua đó, nhà thơ bày tỏ tình yêu đất nước, lòng căm thù giặc, niềm tự hào, niềm tin son sắt vào tương lai tươi sáng của dân tộc và đất nước.
Bài thơ chia rõ ràng và mạch lạc làm hai đoạn: đoạn thứ nhất từ đầu đến …vọng nói về, đoạn thứ hai của tác phẩm là phần còn lại. Có thể nói mạch cảm xúc và suy tưởng cũng là kết cấu cơ bản của bài thơ. Khởi đầu, đầu tiên người nghe, người đọc như ấn tượng là cảm xúc về một sớm mùa thu ở chiến khu Việt Bắc gợi nhớ về mùa thu đã xa của Hà Nội. Dường như cái nỗi nhớ về mùa thu xưa dẫn dắt cảm xúc về mùa thu nay, mùa thu cách mạng với niềm tự hào của người công dân được làm chủ đất nước. Cảm xúc như được dâng trào và ùa ra, mở rộng về đất nước trong đau thương, căm hờn đã vùng lên chiến đấu bất khuất và chiến thắng vẻ vang : Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
Mở đầu thi phẩm bao trùm là cảm giác lâng lâng của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời mùa thu Việt Bắc, gợi nhớ về những ngày thu đã xa của Hà Nội mến yêu:
Sáng mát trong như sáng năm xưa,
Gió thổi mùa thu hương cốm mới.
Chỉ bằng vài nét gợi tả nhỏ nhoi mà tác giả như đã thể hiện được không gian, thời gian, màu sắc, hương vị của mùa thu rồi. Cái không khí mát trong, gió thổi phảng phất mùi hương cốm mới, kết tinh của hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu. Hình ảnh mùa thu trong quá khứ và thực tại đan xen và hòa quyện vào trong tâm tưởng của nhà thơ.
Mùa thu Hà Nội với những nét đặc trưng riêng biệt của khung cảnh thiên nhiên và con người hiện ra thật cụ thể, sinh động:
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Làn gió heo may se se lạnh như đã thổi dọc lòng những con phố nhỏ, làm xao xác hàng cây, với những thềm nắng lá rơi đầy. Ẩn sau những câu thơ tả cảnh thì một Hà Nội thanh lịch có bề dày bốn nghìn năm lịch sử hiện lên. Với cảnh sắc Hồ Tây, Hồ Gươm, đền vua Lê, Tháp Bút, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc… Những di tích, danh lam thắng cảnh ấy như là niềm tự hào to lớn của biết bao thế hệ người Hà Nội. Mùa thu Hà Nội được ví như một bức tranh với đường nét mềm mại, màu sắc và ánh sáng hòa hợp gây ấn tượng khó phai, chất chứa tâm trạng. Trên cái nền phong cảnh đẹp như tranh ấy nổi bật lên hình ảnh những chiến sĩ hào hoa, dũng cảm, tạm xa Thủ đô thân yêu để lên đường kháng chiến. “Người ra đi đầu không ngoảnh lại” như chứa đựng đầy ý chí và quyết tâm nhưng lòng thì vẫn vấn vương, vẫn cảm nhận được bằng cả tâm hồn cái sắc vàng xao xuyến : Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Câu thơ cứ như vừa thực vừa ảo. Tình thơ biết bao vương bao nhiêu lưu luyến bên trong. Nhịp thơ như ngập ngừng, cũng có bâng khuâng như lòng người bâng khuâng , quyến luyến. Thấp thoáng đâu đó ở trong câu thơ này có bóng dáng khách chinh phu dứt áo ra đi vì nghĩa lớn. Dường như cái không khí chớm lạnh, cái sắc nắng thu vàng một màu li biệt càng làm tăng thêm phong vị cổ điển của câu thơ, cảnh thu Hà Nội đẹp nhưng buồn vắng đến nao lòng.
Có thể nói bốn câu thơ như đã miêu tả mùa thu Hà Nội là những câu thơ gây ấn tượng nhất, hay nhất trong bài. Nó như phản ánh một cách hay nhất về tâm hồn tinh tế và ngòi bút tài hoa của Nguyễn Đình Thi. Dường như nỗi buồn, sự lưu luyến, xao xuyến, nhớ nhung của nhà thơ, vương vấn trong cái chớm lạnh của buổi đầu thu, trong xao xác hơi may, trong khung cảnh thềm nắng lá rơi đầy. Tác giả thật tinh tế khi đặt tính từ xao xác trước hơi may là tác giả có ý nhấn mạnh đến nét đáng yêu, đáng nhớ nhất của gió thu và âm thanh tiêu biểu nhất của mùa thu. Nhịp điệu, hay cả âm hưởng thơ mang nỗi buồn man mác, hợp với khung cảnh huyền ảo của mùa thu Hà Nội. Nguyễn Đình Thi như đã phác họa nên bức tranh mùa thu Hà Nội với những đường nét mềm mại, màu sắc trong sáng làm xúc động lòng người, để lại ấn tượng khó phai. Đây được coi là sự biểu hiện của tình yêu Hà Nội thiết tha, say đắm và tình yêu ấy khiến cho cảm hứng của thi sĩ thăng hoa.
Đang như hồi tưởng về một mùa thu đã xa của Hà Nội, cảm xúc của tác giả- Nguyễn Đình Thi bỗng như chuyển hướng sang mùa thu hiện tại bằng một câu thơ ngắn, âm điệu dứt khoát như một lời khẳng định mạnh mẽ:
Mùa thu nay khác rồi
Mùa thu nay có thể hiểu là mùa thu thứ hai ở chiến khu Việt Bắc (1948) tràn đầy khí thế sau chiến thắng Thu Đông 1947. Ở trong đoạn thơ đầu đặc sắc, tiết tấu chậm, âm hưởng trầm lắng hợp với dòng hoài niệm, hợp với cảnh thu buồn và tâm trạng bâng khuâng, da diết. Đến với đoạn này, những câu thơ được viết theo thể tự do, nhịp điệu sôi nổi, phóng khoáng; cảm xúc rạo rực, phấn khích, rộn rã, tươi vui:
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Bức tranh mùa thu nay như hiện ra thật đẹp và khác, với những chi tiết, hình ảnh bình dị, dân dã, khỏe khoắn và tươi sáng. Giữa khung cảnh thiên nhiên thật hùng vĩ, bao la của Việt Bắc, như đã hòa lòng mình vào cuộc kháng chiến thần thánh của toàn dân tộc, tâm trạng của chủ thể trữ tình có sự biến đổi rất rõ. Từ tâm trạng phảng phất buồn mỗi khi nhớ về mùa thu Hà Nội năm xưa đã chuyển sang tâm trạng hào hứng, sối nổi, tràn ngập niềm vui trước khung cảnh mùa thu đẹp đến nao lòng ở chiến khu Việt Bắc. Dường như “Cái tôi trữ tình” cũng chuyển thành “cái ta” Nhà thơ Nguyễn Đình Thi như không chỉ nhân danh cá nhân mà còn nhân danh cộng đồng để nói lên niềm tự hào chính đáng và ý thức làm chủ non sông, làm chủ đất nước. Dường như những cảm hứng về mùa thu của Nguyễn Đình Thi gắn liền với cảm hứng về đất nước trong từng thời kì lịch sử, mùa thu đất trời gắn liền với mùa thu cách mạng. Đất nước được nhìn ngắm, suy ngẫm từ một sự kiện lịch sử đáng nhớ, và đặc biệt mùa thu 1945 cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Niềm vui mới thật vui và to lớn tràn ngập lòng người, tràn ngập đất trời chiến khu Việt Bắc. Có thể nói hình ảnh trong đoạn thơ này tươi mát, sống động. Từ ngữ được sử dụng rất đắt và rất chọn lọc nhằm nhấn mạnh cái khác của thu nay. Mùa thu với ngọn gió phóng khoáng , những cơn gió như thổi ào ào làm cả rừng tre phấp phới như bay như mua trên cái nền trong biếc của trời thu thay áo mới, trong biếc ở con mắt nhìn cảnh vật, giữa tiếng nói cười thiết tha rộn ràng của con người.
Đây được coi là nét nghệ thuật độc đáo mà Nguyễn Đình Thi đã đem đến cho những bài thơ viết về khung cảnh mùa thu, thực sự thổi một luồng gió mới vào đề tài mùa thu trong thơ ca Việt Nam. Và cái buồn, cái lạnh của thu xưa dường như đã lùi xa và tan biến. Mùa thu nay lại trở lên đẹp đẽ, trong sáng bởi tâm hồn, đôi mắt của thi nhân đầy phấn chấn và tin tưởng. Sự tinh tế đến những rung động trong cảm xúc của tác giả thể hiện ở sự cảm nhận được nét riêng của không gian mùa thu: tiết trời êm ả, ánh nắng vàng dịu, bầu trời dường như xanh cao hơn, không khí như nhẹ hơn và mọi âm thanh cũng trở nên ngân xa, vang vọng. Dường như từ cảm xúc về mùa thu đất nước dẫn đến tình cảm mến yêu tha thiết và lòng tự hào về đất nước, nhà thơ ngắm nhìn cảnh vật với tâm hồn phơi phới lạc quan, yêu đời. Niềm vui tràn ngập lòng người, tràn ngập đất trời.
Cội nguồn gốc rễ của niềm vui ấy thật to lớn, sâu xa. Đó có thể là do đất nước sau Cách mạng tháng Tám đã về tay nhân dân. Đó còn chính là hạnh phúc lớn lao của dân tộc, của đất nước đã dành được chủ quyền thiêng liêng độc lập, tự do. Đoạn thơ với nhịp điệu thật rộn ràng, thật hào hứng biết bao và những hình ảnh đẹp đẽ, tươi mát đã thể hiện vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của đất nước thân yêu. Nhà thơ như reo như hát lên niềm hạnh phúc ngập tràn và đầy bất tận ấy:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa.
Hòa chung với nhạc điệu rộn ràng, náo nức, hình ảnh nối tiếp hình ảnh, quấn quýt hòa quyện vào nhau, đoạn thơ tạo nên vẻ đẹp của đất nước Việt Nam sau ngày độc lập. Âm hưởng của đoạn thơ như thật mênh mang bởi những âm tiết ngân vang: ta, thơm mát, bát ngát, phù sa… Các dòng thơ như được liên kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau để làm nổi bật ý thơ.
Điệp khúc là của chúng ta cứ ngân nga, ngân vang và vang vọng giữa đất trời, sông núi. Tất cả những gì như thân yêu, quen thuộc ấy đều có ở trên đất nước này và quan trọng hơn đều là của chúng ta. Còn gì sung sướng hơn chứ, tự hào hơn bốn tiếng ấy chứ, nhất là sau hàng trăm năm nô lệ, dân tộc ta phải đổ bao xương máu mới giành được quyền làm chủ.
Có thể nói cái thế đứng của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên chính là thế đứng của con người tự do, như đầy kiêu hãnh ngẩng cao đầu, cảm hứng mở ra, vẽ ra những hình ảnh thân thương của đất nước với chiều rộng, chiều dài và sắc màu xanh của bầu trời, núi rừng, cánh đồng, ngả đường, dòng sông… Trời thu như được thay chiếc áo mới đẹp đẽ. Những cánh đồng thơm mát mùi đòng đòng, hương lúa. Những ngả đường bát ngát rộng thênh thang, Những dòng sông trroi lặng lẽ vì đỏ nặng phù sa… càng trở nên bội phần đẹp đẽ vì đã về tay chúng ta.
Sắc đỏ phù sa của các con sông như gợi liên tưởng tới những chiến sĩ đã hi sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ non sông vậy. Chữ ‘nặng’ được dùng rất đắt không chỉ diễn tả lượng phù sa trong nước của dòng sông mà còn đặc tả bề dày của dòng chảy bốn nghìn năm lịch sử. Nước không chỉ đỏ nặng phù sa màu mỡ mà còn cuồn cuộn dòng máu quật cường. Và có thể nói những sự liên tưởng sâu xa ấy khiến cho cảm xúc thơ trở nên trầm lắng, thiết tha. Ý thơ đi từ những hình ảnh cụ thể, hữu hình, đến sự cảm nhận cái vô hình là truyền thống, là hồn thiêng đất nước. Nhà thơ như đã suy ngẫm rất nhiều về chiều sâu, về bề dày của lịch sử để từ đó đúc kết thành chân lí:
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Không chỉ những sự vật hữu hình như bầu trời, cánh đồng, núi rừng, dòng sông… mà còn cả những yếu tố vô hình như chính những yếu tố vô hình đó đã làm nên đất nước. Nước chúng ta – giản đơn ba chữ mà chất chứa tình cảm thiêng liêng pha lẫn tự hào. Câu thơ “Nước những người chưa bao giò khuất’ chính là một lời khẳng định mạnh mẽ như chân lí bất di bất dịch về một thực tế hiển nhiên. Trong suốt chiều dài của lịch sử, chiều dài bốn ngàn năm, trải qua bao phen chống ngoại xâm, có thắng có bại nhưng đất nước này, dân tộc này chưa bao giờ khuất phục trước bạo lực của quân thù. Có thể nói truyền thống bất khuất ấy truyền từ đời này sang đời khác. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi như lắng nghe tiếng nói quật cường vọng lên từ lòng đất.
Tiếng đất là tiếng của lịch sử dân tộc, chínhlà tiếng của hồn thiêng sông núi tự ngày xưa đang vọng nói về hiện tại. Mồ hôi, xương máu của tổ tiên ta, ông cha như thấm vào lòng đất đã bao đời, thành tiếng đất luôn nhắc nhở các thế hệ con cháu hãy giữ lấy giang sơn gấm vóc của tổ tiên. Từ đó,mà nhà thơ đã suy nghĩ về đất nước trong chiến tranh giải phóng, trong đau thương căm hờn đứng lên chiến đấu bất khuất anh hùng.

Phan tich bai dat nuoc cua ngyen dinh thi
Có thể nói ít có hình ảnh nào hay mà lại thể hiện nỗi đau thương tang tóc của dân tộc và đất nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lại cô đọng, hàm súc và gây ám ảnh sâu sắc như những hình ảnh trong hai câu thơ:
Ôi những cảnh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều.
Dấu ấn khốc liệt, tàn phá của chiến tranh bao phủ khắp nơi. Đạn bom quân thù cày nát mặt đất, triệt hạ sự sống đến ám ảnh. Ánh hoàng hôn đỏ hắt xuống khiến những cánh đồng quê như chảy máu. Hàng rào dây thép gai quanh đồn bốt giặc tua tủa như chĩa lên như muốn đâm nát trời chiều vốn tĩnh lặng, bình yên của nó. Cả hai chiều không gian đều in đậm bóng dáng sự tàn phá, chết chóc của chiến tranh. Từng chữ, từng câu thơ như quằn quại những đau thương mất mát và nặng bởi cảm xúc đau thương, căm giận.
Các hình ảnh trong đoạn thơ này hoàn toàn tương phản với hình ảnh trong đoạn thơ trên. Những cánh đồng quê chảy máu thay cho những cánh đồng thơm mát. Trời chiều bị dây thép gai đâm nát thay thế cho sắc trời thu trong biếc thanh bình. Cuộc sống êm ả xưa kia giờ không còn nữa. Đâu đâu cũng là cảnh tang tóc, đau thương. Bao nhiêu máu xương đã đổ xuống mảnh đất này.

Trên cái nền đó là hình ảnh đất nước đau thương ấy, nhà thơ khắc họa nổi bật hình ảnh và tâm trạng người chiến sĩ:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Nhà thơ như đã cảm nhận được sâu sắc những rung động tinh tế trong tâm hồn mỗi người lính ra trận. Đó còn chính là tâm trạng cháy bỏng yêu thương nhân dân và nung nấu hờn căm quân cướp nước. Mối căm thù giặc cứ như sôi sục trong tim, thôi thúc những đêm dài hành quân không nghỉ. Mối căm thù dồn lên mũi lê, đầu súng nhằm thẳng quân thù. Nhưng có lẽ chính lúc ấy cũng thấp thoáng hiện lên trong nỗi nhớ đôi mắt của người yêu chờ đợi khiến tâm hồn chiến sĩ ta bồn chồn, xao xuyến.
Có thể nói rằng hay nhất trong phần sau của bài thơ có lẽ là khổ thơ này. Phải là người đã từng trải, có một vốn sống khá là phong phú và trái tim dạt dào tình cảm nhân ái thì tác giả mới có cách diễn đạt tự nhiên về sự hài hòa giữa tình cảm riêng chung, giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước của người chiến sĩ.
Ở đoạn thơ cuối, tác giả dồn hết tâm huyết để tô đậm hình ảnh đất nước từ trong đau thương đã anh dũng đứng lên chiến đấu. Đó còn là một trong những hình tượng cao đẹp về đất nước muôn đời, về sự vươn mình vĩ đại của đất nước và con người Việt Nam trong thời đại mới:
Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây thằng chúa đất
Đứa đè cổ đứa lột da.
Nỗi đau xót tràn trề ra như thấm sâu vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh tiêu biểu tạo nên ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Đặc biệt hình ảnh “Bát cơm chan đầy nước mắt, Bay còn giằng khỏi miệng ta” như đã nói lên tột cùng tội ác của quân thù và tột cùng sự tủi cực của nhân dân ta trong vòng nô lệ. Nhưng bạo lực của kẻ thù cũng không thể bắt chúng ta, dân ta phải khuất phục:
Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước, thương nhà
Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người ảo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng

Có thể nói từ thực tế kháng chiến gian nan và hào hùng cảu dân tộc ta, Nguyễn Đình Thi đã viết nên những câu thơ khái quát về sự mất mát, hi sinh của đất nước cùng quyết tâm giành lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc ta. cả dân tộc đoàn kết thành một khối thống nhất để đánh kẻ thù chung.
Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội
Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh.

Cái hay của đoạn thơ này chính là âm điệu thơ hào hùng, sảng khoái. Và dường như chính tiếng nói trữ tình của nhà thơ mang âm vang tiếng nói của cả dân tộc đang hướng tới tương lai. Nhân dân ta đứng dậy giữ nước không chỉ bằng sức mạnh tình cảm mà còn bằng sức mạnh lí trí, có ánh sáng cách mạng soi dường và niềm tin vào tương lai tươi sáng.

Sự kết thúc của bài thơ là hình ảnh đất nước từ trong đau thương, căm hận và máu lửa chiến tranh những vẫn đã hiên ngang đứng dậy, tự khẳng định mình trước lịch sử và nhân loại:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lừa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
Cùng với âm hưởng hào hùng, sảng khoái của đoạn thơ được tạo nên từ thể thơ sáu chữ với tiết tấu nhanh, mạnh, dồn dập cùng với hàng loạt hình ảnh đậm chất anh hùng ca lấy từ thực tế của chiến trường Điện Biên Phủ ác liệt mà nhà thơ đã trực tiếp tham gia và được tận mắt chứng kiến: “Tổ trông thấy các anh – Nguyễn Đình Thi kể – mình mẩy đầy bùn, nhưng khi nhảy lên trên mặt đất, các anh hiện lên chói lòa trong ánh nắng”. Tác giả thạt tinh tế khi đã tạo nên hình tượng thơ đẹp đẽ, hào hùng từ hình ảnh rất chân thực: trong máu lửa, bùn lầy, giữa tiếng đại bác rền vang rung trời chuyển đất, chiến sĩ ta từ các chiến hào ào ạt xông lên như nước vỡ bờ. Dường như các hình ảnh của họ nổi lên trên nền trời như một tượng đài kì vĩ của chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng.

“Đất nước” của Nguyễn Đình Thi là một bài thơ tên tuổi, góp phần làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Thi trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ này như đã tiêu biểu cho suy ngẫm sâu sắc của tác giả về đất nước. Với cảm hứng thơ lúc trầm lắng lúc sối trào, cùng với nhịp thơ biến đổi vô cùng linh hoạt, hình ảnh đất nước cứ ngời lên trong khổ đau, gian nan, vất vả. Nguyễn Đình Thi được coi là nhà thơ của đất nước trong đau thương. Ý tưởng hay và độc đáo về một đất nước đau thương mà hào hùng, bất khuất không phải chỉ Nguyễn Đình Thi mới có, nhưng do hình tượng trong thơ ông thấm đẫm cảm xúc bi tráng mãnh liệt, gắn với những ấn tượng sâu sắc nên Đất nước là một tác phẩm xuất sắc, đủ sức vượt qua mọi thử thách của thời gian để sống mãi trong lòng người đọc.

Những chuyên mục hay của Ngữ Văn 12:

Hi vọng với bài viết trên đây sẽ mang lại cho các bạn những kiến thức bổ ích, chúc các bạn và các em ôn tập tốt!

Loading...